TÌNH TRẠNG CĂNG THẲNG TRONG CÔNG VIỆC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU TRỊ VÀ NUÔI DƯỠNG NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN KON TUM NĂM 2025
2026-01-19T17:28:06-05:00
2026-01-19T17:28:06-05:00
https://bvtamthankontum.vn/vi/news/quy-trinh-kham-benh/tinh-trang-cang-thang-trong-cong-viec-va-mot-so-yeu-to-lien-quan-cua-nhan-vien-y-te-tai-trung-tam-dieu-tri-va-nuoi-duong-nguoi-benh-tam-than-kon-tum-nam-2025-322.html
https://bvtamthankontum.vn/uploads/news/2026_01/image-20260120052157-1.png
Bệnh viện Tâm Thần tỉnh Kon Tum
https://bvtamthankontum.vn/uploads/logo-bv-photoroom.png
Thứ hai - 19/01/2026 17:20
Đinh Văn Khuê, Đỗ Thị Lệ Thu, Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Thị Thảo Trang, Hoàng Quốc Việt, Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi.
TÓM TẮT
Mục tiêu: Tình trạng căng thẳng trong công việc và một số yếu tố liên quan của nhân viên y tế tại Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum năm 2025
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên 55 nhân viên y tế tại Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum.
Kết quả: Nhân viên y tế có mức căng thẳng cao là 1,8%, ở mức căng thẳng vừa phải là 70,8%, căng thẳng ở mức thấp là 27,3%. Các yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế được xác định là yếu tố Nhóm tuổi p = 0,004, yếu tố Mơ hồ về vai trò p = 0,006. Mức căng thẳng cao ở nhân viên y tế do yếu tố Sự mơ hồ về vai trò là 1,8%. Mức căng thẳng cao ở nhóm nhân viên y tế có độ tuổi từ 31-40 tuổi là 1,8%..
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Căng thẳng nghề nghiệp là vấn đề phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người lao động, đặc biệt là nhân viên y tế. Do đặc thù công việc với khối lượng lớn, trách nhiệm chuyên môn cao và thường xuyên tiếp xúc với người bệnh, nhân viên y tế có nguy cơ căng thẳng cao, nhất là trong lĩnh vực tâm thần. Tại Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum, môi trường làm việc đặc thù tiềm ẩn nhiều yếu tố gây căng thẳng. Vì vậy, việc đánh giá tình trạng căng thẳng trong công việc và các yếu tố liên quan của nhân viên y tế là cần thiết nhằm đề xuất các giải pháp hỗ trợ phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và hiệu quả công việc.
Mục tiêu: Mô tả tình trạng căng thẳng trong công việc của nhân viên y tế; phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng trong công việc của nhân viên y tế tại Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum năm 2025.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế công tác tại các khoa, phòng của Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum.
2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Người nghỉ thai sản, nghỉ ốm dài ngày, tham gia học tập dài hạn tại các trường chuyên nghiệp mà không có mặt trong thời gian khảo sát.
2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 07 năm 2025 đến tháng 11 năm 2025
Nghiên cứu được tiến hành tại: Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum tại 138 đường Bắc Kạn, phường Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi
2.4. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng.
2.5. Cỡ mẫu:
Dự kiến chọn toàn bộ nhân viên y tế (63 nhân viên y tế) tại Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum vào nghiên cứu, trên thực tế nghiên cứu đã thu thập số liệu được 55 đối tượng nghiên cứu.
2.6. Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ: Chọn toàn bộ nhân viên y tế công tác tại các khoa, phòng thuộc Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum tham gia vào nghiên cứu (trong thực tế đã thu thập được 55 mẫu nghiên cứu là nhân viên y tế theo tiêu chuẩn lựa chọn, đồng ý tham gia vào nghiên cứu).
2.7. Phương pháp thu thập số liệu
- Phần 1: Đánh giá mức độ căng thẳng của nhân viên y tế dựa trên thang đo căng thẳng nhận thức (PSS-10).
- Phần 2: Khảo sát các yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế bằng bộ câu hỏi chung về căng thẳng công việc (NGJSQ)
2.7. Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng Khoa học và Công nghệ của Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum xem xét, thẩm định và chấp thuận triển khai trước khi tiến hành thu thập số liệu.
III. KẾT QUẢ
Bảng 3.1. Thông tin về nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n = 55)
| Thông tin chung |
Tần số |
Tỷ lệ % |
| Giới tính |
Nam |
20 |
36,4 |
| Nữ |
35 |
63,6 |
| Tuổi theo nhóm |
Từ 30 tuổi trở xuống |
1 |
1,8 |
| Từ 31 đến 40 tuổi |
31 |
56,4 |
| Từ 41 đến 50 tuổi |
16 |
29,1 |
| Từ 51 tuổi trở lên |
7 |
12,7 |
Trong 55 đối tượng nghiên cứu có 36,4% là Nam và 63,6% là Nữ. Nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu, qua khảo sát có độ tuổi thấp nhất là 29 tuổi, cao nhất là 55 tuổi. Nhân viên y tế ở nhóm tuổi từ 31 đến 40 tuổi chiếm 56,4%, tiếp theo là nhóm tuổi từ 41 đến 50 tuổi chiếm 29,1%.
Hình 3.3. Biểu đồ Mức độ căng thẳng của nhân viên y tế theo thang đo PSS-10 (n=55)
Bảng 3.9. Mối tương quan giữa tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế và các yếu tố cá nhân (n=55)
| STT |
Biến số |
r (Spearman) |
P |
| 1 |
Giới tính |
0.311* |
0,021 |
| 2 |
Tuổi theo nhóm |
-0.268* |
0,048 |
| 3 |
Tình trạng hôn nhân |
0,259 |
0,056 |
| 4 |
Hoàn cảnh sống |
0,088 |
0,524 |
| 5 |
Khối công tác |
0,176 |
0,198 |
| 6 |
Lĩnh vực được đào tạo |
-0,061 |
0,657 |
| 7 |
Trình độ chuyên môn |
-0,164 |
0,232 |
| 8 |
Công tác kiêm nhiệm |
-0.293* |
0,030 |
| 9 |
Thời gian công tác |
-0,007 |
0,958 |
Nhận xét: Tình trạng căng thẳng của NVYT có mối tương quan với các yếu tố thuộc cá nhân là yếu tố Giới tính, yếu tố Tuổi theo nhóm và yếu tố Công tác kiêm nhiệm.
Bảng 3.11. Mối tương quan giữa tình trạng căng thẳng của NVYT và các yếu tố thuộc môi trường làm việc (n=55)
| STT |
Biến số |
r (Pearson) |
p |
| 1 |
Hỗ trợ từ gia đình/ Bạn |
-0,153 |
0,266 |
| 2 |
Sự mơ hồ về vai trò |
-0,370** |
0,005 |
| 3 |
Hài lòng với công việc |
0,341* |
0,019 |
| 4 |
Hỗ trợ từ cấp trên |
-0,292* |
0,031 |
| 5 |
Hỗ trợ từ đồng nghiệp |
-0,092 |
0,327 |
| 6 |
Trách nhiệm và công việc |
-0,014 |
0,918 |
| 7 |
Thăng tiến trong công việc |
0,314** |
0,001 |
| 8 |
Sự khác biệt trong công việc |
0,192* |
0,039 |
| 9 |
Môi trường vật lý |
0,226* |
0,015 |
Mối quan hệ này là tác động qua lại hai chiều giữa các yếu tố Sự mơ hồ về vai trò; Yếu tố Môi trường vật lý; Yếu tố Sự khác biệt trong công việc; Yếu tố Hỗ trợ từ cấp trên; Yếu tố Hài lòng với công việc; Yếu tố Thăng tiến trong công việc với yếu tố Tình trạng căng thẳng của NVYT.
Bảng 3.12. Kết quả phân tích hồi quy đa biến (n=55)
| Mô hình |
Hệ số chưa chuẩn hoá |
Hệ số chuẩn hóa |
95%CI |
p |
Thống kê cộng tuyến |
| B |
Sai số chuẩn |
Beta β |
Giới hạn dưới |
Giới hạn trên |
TOL |
VIF |
| 5 (Hằng số) |
3,012 |
0,931 |
|
1,138 |
4,886 |
0,002 |
|
|
| Nhóm tuổi |
-0,307 |
0,102 |
-0,474 |
-0,513 |
-0,100 |
0,004 |
0.519 |
1,928 |
| Sự mơ hồ về vai trò |
-0,117 |
0,041 |
-0,375 |
-0,199 |
-0,035 |
0,006 |
0,763 |
1,310 |
Dựa vào kết quả phân tích đa biến xác định được 2 yếu tố thuộc môi trường làm việc, yếu tố cá nhân là yếu tố Sự mơ hồ về vai trò và yếu tố Nhóm tuổi có liên quan đến Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế tại Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum.
IV. BÀN LUẬN
1. Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế
Tình trạng căng thẳng trong phân tích trên 55 nhân viên y tế tại cho thấy tỷ lệ căng thẳng ở mức thấp là 27%, căng thẳng vừa phải là 71%, căng thẳng cao chiếm 2%. Tỷ lệ này là khá cao so với tỷ lệ căng thẳng ở các mức nhẹ là 42,5%, căng thẳng vừa phải là 56,7%, căng thẳng nặng chiếm 0,8% trong nghiên cứu tại Bệnh viện Tâm thần TW2 thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (7) và trong nghiên cứu vào năm 2011 tại khối lâm sàng bệnh viện Ung Bướu Hà Nội mức vừa là 8,1%, nặng là 3,6% còn rất nặng là 0,9% (20). Tỷ lệ căng thẳng trong nghiên cứu gần bằng với tỷ lệ căng thẳng cảm xúc ở mức nhẹ và trung bình là 66,7%, mức độ nặng là 32,0% và mức độ rất nặng là 1,3% ở Bác sĩ và Điều dưỡng bị căng thẳng trong nghiên cứu tại bệnh viện Đại học Y Thái Bình năm 2020 (14). Mức độ căng thẳng trong nghiên cứu có lẽ là do đặc thù công việc trong ngành y tế, tại cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần cho thấy thường cao hơn so với các bệnh viện khác.
Tỷ lệ Nữ giới có tình trạng căng thẳng cao hơn so với Nam giới (Nữ giới căng thẳng ở mức thấp là 10,9%, căng thẳng vừa phải là 50,9%, căng thẳng cao là 1,8%; Nam giới căng thẳng mức thấp là 16,4%, căng thẳng vừa phải là 20,0%, căng thẳng cao là 0%). Có thể được lý giải các ‘công việc không tên’ tiêu tốn một lượng thời gian và năng lượng đáng kể, làm giảm khả năng nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe; NVYT nữ thường có xu hướng gần gũi, lắng nghe và hỗ trợ người bệnh nhiều hơn, dẫn đến mức độ tiêu hao cảm xúc cao hơn; sinh hoạt cộng đồng tăng thêm áp lực tổng thể.
2. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế
Tại cơ sở nghiên cứu tình trạng căng thẳng của NVYT xuất hiện theo tuổi có mối tương quan với nhau (p< 0,05). Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra tình trạng NVYT nhóm tuổi từ 31 đến 40 tuổi có mức căng thẳng cao chiếm tỷ lệ 1,8%; mức căng thẳng vừa phải chiếm tỷ lệ 47,3%. Tỷ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với tỷ lệ NVYT tại Trung tâm Y tế huyện Đông Anh trong nghiên cứu vào năm 2022, mức độ căng thẳng cảm xúc cao chiếm 53% ở nhóm dưới 31-40 tuổi (3). Điều này chỉ ra rằng cần phải quan tâm đến vấn đề căng thẳng trên đối tượng nhân viên y tế nhiều tuổi do họ dễ bị tác động hơn, qua đó cũng là giúp bảo vệ nguồn nhân lực cho chính Trung tâm.
Yếu tố Giới tính được xác định là yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế với p< 0,05. Trong nghiên cứu NVYT là nữ có mức độ căng thẳng cao là 1,8%, căng thẳng vừa phải là 50,9%, căng thẳng thấp là 10,9%. Trong nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hoà Bình năm 2020 tỷ lệ nguy cơ căng thẳng ở nữ 13,8% cao, ở nam giới 9,8% (6). Điều này có thể được lý giải là phụ nữ ngoài trách nhiệm với công việc ở cơ quan, họ còn có trách nhiệm nặng nề hơn trong việc quán xuyến công việc chăm sóc nhà cửa, nội trợ, con cái, sức khoẻ của phụ nữ cũng thường kém hơn nam giới nên phụ nữ dễ bị căng thẳng hơn.
Từ 14 yếu tố thuộc môi trường làm việc được xây dựng dựa trên việc tham khảo các tài liệu và nghiên cứu, nghiên cứu đã tiến hành thực hiện phân tích mối tương quan giữa các yếu tố, từ đó nghiên cứu này đã xác định được 06 yếu tố thuộc môi trường làm việc có mối tương quan với tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (p<0,05) tại cơ sở nghiên cứu.
Đối với yếu tố Sự mơ hồ về vai trò (r =- 0,370, p = 0,005) hay yếu tố Sự khác biệt trong công việc (r = 0,192 và p< 0,039), các yếu tố này cũng tương tự như trong nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh với mức ý nghĩa thống kê p<0,05 (8). Lý do có thể những nhân viên y tế chưa rõ ràng về vai trò, cùng với sự khác biệt giữa chuyên môn đào tạo, nhiệm vụ thực tế và sự điều động nhân lực giữa các khoa phòng, góp phần làm gia tăng căng thẳng.
Yếu tố Hỗ trợ từ cấp trên trong nghiên cứu này có mối tương quan nghịch với tình trạng căng thẳng của NVYT (r = - 0,292, p=0,031) vấn đề này cũng giống trong nghiên cứu tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 các đối tượng nghiên cứu cảm thấy cấp trên không lắng nghe có nguy cơ bị căng thẳng cao gấp 2,3 lần so với nhóm được lắng nghe rất nhiều với mức ý nghĩa p = 0,004 (11). Yếu tố này lại trái ngược với nghiên cứu tại bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2019 ở đây các vấn đề liên quan đến cấp trên lại gây căng thẳng thấp nhất cho Điều dưỡng với SD = 1,52 ± 0,16 (5). Sự hỗ trợ từ cấp trên sẽ giúp nhân viên y tế cảm giác yên tâm và chia sẻ gánh nặng trách nhiệm với họ, nhưng khi sự giúp đỡ ít, mối quan hệ ít gắn gũi và thân thiện, có khoảng cách là một trong những yếu tố gây căng thẳng trong công việc.
Yếu tố Môi trường vật lý cũng có mối tương quan với tình trạng căng thẳng (r = 0,226 và p=0,015) vì môi trường làm việc nóng bức, có mùi khó chịu, ồn ào...cũng làm cho tâm lý con người trở nên nhạy cảm hơn. Yếu tố Môi trường vật lý trong nghiên cứu này, được xác định là một trong những yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng của NVYT tại cơ sở nghiên cứu, với tỷ lệ liên quan đến mức căng thẳng cao ở NVYT là 1,8%. Yếu tố Môi trường vật lý là yếu tố liên quan giống như nghiên cứu cứu trên 811 nhân viên y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội vào năm 2016, 71,9% đối tượng nghiên cứu xác nhận môi trường làm việc không thuận lợi là yếu tố liên quan gây căng thẳng cho nhân viên y tế (4). Những vấn đề về môi trường vật lý kém như nhiệt độ quá cao, ánh sáng không đủ, chỗ ngồi không thoải mái,...gây nên căng thẳng tại nơi làm việc.
Yếu tố Thăng tiến trong công việc có r = 0,314 và p<0,001 trong nghiên cứu của chúng tôi có mối tương quan thuận với tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu. Yếu tố Thăng tiến trong công việc là yếu tố liên quan với mức ý nghĩa p = 0,001 vấn đề này cũng tương tự như trong nghiên cứu của Aoki.M và cộng sự năm 2010 yếu tố Thăng tiến trong công việc có ý nghĩa thống kê p = 0,0004 (25). Vừa là động lực thúc đẩy nhưng cũng là áp lực đối với mỗi cá nhân.
V. KẾT LUẬN
Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế là 1,8% ở mức căng thẳng cao, mức độ căng thẳng vừa phải là 70,9%, mức độ căng thẳng thấp là 27,3%. Mức độ căng thẳng cao ở Nữ giới là 1,8%. Nhóm nhân viên y tế đã kết hôn có mức căng thẳng cao là 1,8%. Mức độ căng thẳng cao thuộc nhóm từ 31 đến 40 tuổi là 1,8%. Mức căng thẳng cao ở NVYT thuộc nhóm Bác sĩ là 1,8%, ở khoa Điều trị tỷ lệ là 1,8%. Xác định được hai yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế qua mô hình hồi quy tuyến tính bội là yếu tố Nhóm tuổi, yếu tố Sự mơ hồ về vai trò.
VI. KHUYẾN NGHỊ
Đối với Ban lãnh đạo Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum: Xây dựng và triển khai kế hoạch tầm soát sức khỏe tinh thần định kỳ cho toàn thể nhân viên y tế; Tăng cường chỉ đạo và giám sát việc thực hiện các giải pháp nhằm giảm căng thẳng trong công việc, đảm bảo môi trường làm việc an toàn và thân thiện
Đối với phòng Tổ chức - Hành chính - Kế hoạch – Tài chính: Tổ chức các buổi đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn và kỹ năng mềm với nội dung đa dạng, phù hợp với nhu cầu từng vị trí công tác; chú trọng tập huấn ban đầu cho nhân viên mới nhằm giúp họ thích nghi tốt với môi trường làm việc đặc thù của đơn vị.
Đối với các khoa phòng của Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum: Rà soát, đánh giá và đề xuất cải thiện các điều kiện môi trường vật lý, đặc biệt tại các vị trí có ánh sáng kém, nhiệt độ không phù hợp nhằm đảm bảo yếu tố an toàn và vệ sinh lao động; Tăng cường tổ chức các hoạt động tập thể như thể thao, văn nghệ, sinh hoạt nhóm… nhằm củng cố tinh thần đoàn kết, hỗ trợ giao tiếp và tạo môi trường làm việc tích cực giữa các nhân viên.
Đối với nhân viên y tế tại Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum: Chủ động tham gia các hoạt động sinh hoạt chuyên môn và các buổi toạ đàm do Trung tâm tổ chức để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, tăng cường sự kết nối và giảm thiểu căng thẳng cá nhân; Tích cực tham gia các chương trình khám và tư vấn sức khỏe tinh thần do Trung tâm triển khai nhằm tầm soát sớm và dự phòng các biểu hiện căng thẳng nghề nghiệp.
Lời cảm ơn: Chúng xin xin chân thành cảm ơn sự quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ của Lãnh đạo và nhân viên y tế Trung tâm Điều trị và Nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum tham gia nghiên cứu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
- Bộ Y tế (2019). Thông tư số 20/2019 TT-BYT quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê cơ bản ngành y tế. Hà Nội 31/7/2019.
- Dương Quý Đông. Căn thẳng và kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế và một số biện pháp ứng phó ở Trung tâm Y tế huyện Đông Anh, năm 2022.
- Huỳnh Thị Phương Linh. Thực trạng căng thẳng nghề nghiệp của Điều dưỡng lâm sàng và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2018. Luận văn thạc sĩ Quản lý bệnh viện Trường Đại học y tế công cộng. 2018.
- Trần Thị Ngọc Mai, Nguyễn Hữu Hùng. Thực trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng đang học hệ cử nhân vừa làm vừa học tại trường Đại học Thăng Long và Thành Tây năm 2013. Tạp chí y học thực hành. 2014;914(4):110–5.
- Nguyễn Sinh Phúc (2014), Tâm lý Y học, Nhà xuất bản Y học.
- Nguyễn Sinh Phúc (2020), Bài giảng đánh giá tâm lý, Nhà xuất bản Y học.
- Nguyễn Thị Minh Phương, Bùi Thị Huyền Diệu, Trần Thị Tố Hoa. Căng thẳng cảm xúc ở Bác sĩ và Điều dưỡng tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình năm 2020. Tạp chí Y học dự phòng. 2020; 30(8): 159-166
- Trần Thị Thuỷ. Đánh giá trạng thái stress của cán bộ y tế khối lâm sàng bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2011. Luận văn thạc sĩ Quản lý bệnh viện Trường Đại học y tế công cộng. 2011.
- Nguyễn Văn Tuyên. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến căng thẳng của điều dưỡng viên lâm sàng bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định năm 2015. 2015.
- Tăng Thị Hảo, Tăng Thị Hải ĐMS (2019) Thực trạng stress nghề nghiệp ở Điều dưỡng viên tại Bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2019. Tạp chí khoa học Điều Dưỡng.
Nước ngoài
- ILO. Workplace Stress: a collective challenge [Internet]. International Labour Organization (ILO). 2016. 57 p. Available from:
https://www.ilo.org/global/topics/safety-and-health-at-work/resourceslibrary/publications/WCMS_466547.
- Mark A. Staal Ames Research Commission, Moffett Field C. Stress,Cognition, and Human Performance: A Literature Review and Conceptual Framework. 2004. 1-177 p.
- Masa'Deh R, AL halaiqa F, AbuRuz ME, Al-Dweik G, Al-Akash HY. Perceived Stress in Nurses: A Comparative Study. Glob J Health Sci. 2016;9(6):195.
- Nad P, Ramasoota P, Chompikul J, Job stress, work characteristics and social support among nurses working at port moresby general hospital, Papua New Guinea. JPHD. 2010; 8(1): 21-32.
- NIOSH, “Generic Job Stress Questionnaire”;U.S.National Institute for Occupational Safety and Health, Cincinnati, Ohio.